Thứ Năm , Tháng Mười 29 2020
Home / Tin tức / Tin tức sự kiện / Công nghệ thông tin trong y tế phát triển vượt bậc

Công nghệ thông tin trong y tế phát triển vượt bậc

SKĐS – Hệ thống các đơn vị y tế từ trung ương đến địa phương, gồm Bộ Y tế, 63 Sở, trên 600 phòng y tế quận/huyện, với các cơ quan chuyên môn gồm có hệ dự phòng, hệ điều trị, hệ thống đào tạo và nghiên cứu, hệ thống dược và trang thiết bị y tế. Việc triển khai ứng dụng và phát triển CNTT y tế là rất lớn, mỗi hệ đều có các ứng dụng chuyên sâu, trong xu hướng phát triển của khoa học, kỹ thuật, không thể thiếu CNTT. Ứng dụng có hiệu quả CNTT trong quản lý đơn vị sẽ giúp công tác quản lý được cải tiến, có tính khoa học, giảm giấy tờ, minh bạch, cung cấp dịch vụ y tế phục vụ người dân được tốt hơn..

Bước vào thế kỷ 21, với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế, Công nghệ thông tin phát triển đã tác động sâu sắc, toàn diện đến sự phát triển của toàn xã hội. Tại Việt Nam, Đảng và chính phủ đặc biệt quan tâm đến việc đẩy mạnh và ứng dụng công nghệ thông tin. Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã xác định “Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới”. Luật Công nghệ thông tin được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006. Ngày 01/7/2014, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế (Nghị quyết 36). Nhằm hướng tới xây dựng chính phủ điện tử, việc phát triển công nghệ thông tin được quan tâm, triển khai đồng bộ, toàn diện trong đó có công nghệ thông tin y tế.

 dich vu ngoại tru

TND. PGS.TS Trần Quý Tường, Cục trưởng Cục CNTT chủ trì buổi làm việc với các chuyên gia

Hệ thống các đơn vị y tế từ trung ương đến địa phương, gồm Bộ Y tế, 63 Sở, trên 600 phòng y tế quận/huyện, với các cơ quan chuyên môn gồm có hệ dự phòng, hệ điều trị, hệ thống đào tạo và nghiên cứu, hệ thống dược và trang thiết bị y tế. Việc triển khai ứng dụng và phát triển CNTT y tế là rất lớn, mỗi hệ đều có các ứng dụng chuyên sâu, trong xu hướng phát triển của khoa học, kỹ thuật, không thể thiếu CNTT. Ứng dụng có hiệu quả CNTT trong quản lý đơn vị sẽ giúp công tác quản lý được cải tiến, có tính khoa học, giảm giấy tờ, minh bạch, cung cấp dịch vụ y tế phục vụ người dân được tốt hơn.

Trước nhu cầu thực tế đó, các đơn vị trong ngành y tế đã thực hiện ứng dụng CNTT cho đơn vị mình mang tính đơn lẻ, dàn trải. Công tác chỉ đạo việc ứng dụng, phát triển CNTT trong ngành y tế chưa tập trung, chưa thống nhất, nguồn lực đầu tư cho CNTT không chỉ còn thiếu mà còn chưa có sự phối hợp, nên hiệu quả chưa cao. Cơ sở pháp lý về CNTT y tế còn thiếu, các quy định về chuyên môn kỹ thuật, tiêu chuẩn CNTT y tế chưa được ban hành đầy đủ.

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và yêu cầu tăng cường quản lý về CNTT y tế ngày càng cấp bách, đòi hỏi phải có một tổ chức của Bộ Y tế để giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về CNTT y tế và thống nhất chỉ đạo ứng dụng CNTT trong cả nước phát triển. Thấy được vai trò và tầm quan trọng của việc thành lập đơn vị CNTT, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã quyết liệt chỉ đạo Vụ Khoa học & Đào tạo làm đầu mối xây dựng Đề án thành lập cục CNTT Bộ Y tế.

Năm 2012, Đề án thành lập Cục công nghệ thông tin chính thức được lấy ý kiến và thẩm định. Ngày 31/8/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế, trong đó Cục CNTT chính thức được Chính phủ thành lập. Có thể khẳng định, Cục công nghệ thông tin được thành lập là do đòi hỏi khách quan của công tác ứng dụng và phát triển CNTT y tế và Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến là người đặt nền móng và khai sinh ra cục CNTT – Bộ Y tế.

4. Thí điểm triển khai bệnh án điện tử về cơ bản đã hoàn thành, tuy nhiên để triển khai nhân rộng, có hiệu quả thì cần phải thống nhất ban hành mã bệnh nhân hoặc mã an sinh xã hội, thông tư hướng dẫn về bệnh án điện tử.

Cục CNTT trong tình hình mới

5 năm sau ngày thành lập, đến nay Cục CNTT – Bộ Y tế đã xây dựng được đội ngũ 87 công chức, viên chức và người lao động, trong đó có 4 tiến sĩ, 27 thạc sĩ, còn lại là trình độ đại học, phần lớn công chức, viên chức có kinh nghiệm công tác trong ngành y tế. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần giúp Cục hoàn thành nhiệm vụ được giao.

 

Bên cạnh các nhiệm vụ chuyên môn, Cục CNTT cũng tham gia các hoạt động khác tương đối tốt. Tập thể cán bộ, công chức và người lao động của Cục CNTT tham gia tích cực trong công tác từ thiện, hỗ trợ đồng bào các địa phương gặp thiên tai, bão lụt vượt qua khó khăn.

 

Phong trào học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được tập thể lãnh đạo và cán bộ, Đảng viên  của Cục quán triệt. Buổi nói chuyện về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, do Giáo sư Hoàng Chí Bảo trình bày đã mang đến cho cán bộ, công chức và người lao động Cục CNTT – Bộ Y tế một cái nhìn tổng quát, sâu sắc về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác – một con người với trí tuệ uyên bác và nhân cách cao cả, trọn đời vì nước, vì dân. Từ đó khơi dậy lòng tự hào, ý thức trách nhiệm của mỗi người trong việc tích cực, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện thực hiện và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh, không ngừng nỗ lực, cố gắng vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.

MƯỜI KẾT QUẢ TIÊU BIỂU TRONG 5 NĂM QUA VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Y TẾ

1. Xây dựng và từng bước hình thành cơ sở pháp lý về công nghệ thông tin y tế, như Bộ Y tế đã ban hành Thông tư quy định hoạt động y tế trên môi trường mạng số 53/2014/TT-BYT ngày 29/12/2014; danh mục kỹ thuật về CNTT trong lĩnh vực y tế ban hành theo Quyết định số 2035/QĐ-BYT ngày 12/06/2013; quy định về thực hiện y tế từ xa; Kiến trúc Chính phủ điện tử Bộ Y tế phiên bản 1.0; các quy định của Bộ Y tế về đảm bảo an toàn thông tin y tế điện tử,… và nhiều quy định khác làm cơ sở thúc đẩy phát triển y tế điện tử Việt Nam.

2. Ứng dụng Công nghệ thông tin thành công trong kết nối, liên thông dữ liệu khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện với cơ quan giám định và thanh toán BHYT đạt trên 94%.

3Ứng dụng CNTT trong bệnh viện có bước phát triển đột phá, gần 100% bệnh viện có phần mềm hệ thống thông tin bệnh viện, trên 75% bệnh viện ƯDCNTT đạt mức độ 3 theo bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện năm 2016 của Bộ Y tế.

4. Triển khai thành công và có hiệu quả các dịch vụ công trực tuyến của Bộ Y tế, kết nối Cổng thông tin một cửa quốc gia, thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Một cửa ASEAN: 100% dịch vụ công trực tuyến thuộc thẩm quyền Bộ Y tế được cung cấp trực tuyến ở mức độ 2; 6 dịch vụ công trực thuyến mức độ 3; 25 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 (tích hợp ứng dụng chữ ký số); hoàn thành giai đoạn I việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Một cửa ASEAN.

5. Hệ thống quản lý và điều hành văn bản điện tử, kết nối liên thông với Văn phòng Chính phủ, hơn 20 bộ/ngành và 56 UBND tỉnh/thành phố, công khai kết quả giải quyết thủ tục hành chính trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

6. Công bố nhiều tiêu chuẩn kết nối liên thông, tài liệu tiêu chuẩn quốc tế giao thức bản tin HL7, tiêu chuẩn kiến trúc tài liệu lâm sàng HL7CDA phiên bản tiếng Việt áp dụng vào phần mềm ứng dụng trong lĩnh vực y tế (áp dụng vào phần mềm quản lý bệnh viện theo tiêu chuẩn quốc tế).

7. Hình thành hệ thống thông tin quản lý y tế dự phòng, triển khai phần mềm tiêm chủng mở rộng trên cả nước, đã có trên 6,2 triệu đối tượng tiêm chủng được quản lý.

8. Bước đầu hình thành mạng lưới Y tế từ xa: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện hữu nghị Việt Đức là bệnh viện hạt nhân đã kết nối với 18 bệnh viện vệ tinh; Sở Y tế Quảng Ninh đã kết nối bệnh viện đa khoa tỉnh với các bệnh viện tuyến huyện.

9. Bệnh án điện tử theo tiêu chuẩn quốc tế được triển khai tại 7 bệnh viện trên cả nước (Bệnh viện: Y học cổ truyền Trung ương, Phụ sản Trung ương, Nhi Trung ương, Trung ương Huế, Đa khoa Hà Tĩnh, Nhi Thanh Hóa, Quận Thủ Đức).

10. Duy trì phát triển hệ thống thông tin quản lý dân số trên cả nước, triển khai ở Tổng cục Dân số và 63 tỉnh/thành phố, chi cục dân số và kế hoạch hóa gia đình, với số liệu của trên 90 triệu dân.

 

Check Also

Không ngừng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh

Với phương châm “Lấy người bệnh làm trung tâm”, hơn 50 năm qua, Bệnh viện …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *